PHẦN MỘT
Giờ đây, được vây bọc trong bầu không khí huyền bí, mật nghị của Hồng y đoàn bắt đầu tiến hành công việc của Chúa. Được cách li trong những phòng nhỏ riêng biệt giữa nhà nguyện lạnh lẽo mênh mông, các hồng y không thể liên lạc với nhau hay với thế giới bên ngoài. Họ phải độc lập ra quyết định thông qua cầu nguyện và Thần Khải, tốt nhất là trong lúc quỳ gối trước những trang thờ nhỏ với Thánh giá treo bên trên và ánh nến lung linh là những vật trang hoàng duy nhất. Bên trong các căn phòng tối, ẩm ướt đó, chỉ có một chiếc giường thô mộc làm chỗ ngả lưng chợp mắt để lấy lại sức, một bô đựng phân, một bình đi tiểu, một lọ hạnh nhân ngào đường, bánh hạnh nhân, bánh quy, đường, một bầu nước, và muối, làm đồ ăn thức uống. Vì không có khu bếp chính nên thức ăn được chuẩn bị ngay trong
Đêm hôm ấy, mấy vị hồng y lần lượt bước ra khỏi phòng và lẻn vào phòng các vị khác. Những cuộc tái thương nghị bắt đầu; họ mặc cả lại về tài sản và chức vụ. Những lời hứa được đổi. Một phiếu bầu có thể được đổi bằng những hứa hẹn hấp dẫn về tiền của, địa vị, cơ hội. Những cam kết trung thành mới được đúc ra. Nhưng trí óc và con tim của con người vốn thất thường, hẳn là khó nghĩ lắm thay. Bởi nếu một người có thể bán linh hồn mình cho con quỷ này thì lí do gì lại không bán cho con quỷ khác?
Trước tiên, ông phải tạo dựng một đội quân để thiết định Giáo hội Công giáo trở thành quyền lực thế tục và lấy lại quyền kiểm soát trên các lãnh thổ thuộc giáo triều ở Ý. Thứ nhì, ông phải xây dựng và vun vén tài sản cho các con ông.
“Họ tin vào Thiên đàng. Quả là một hồng ân. Nếu không có niềm tin đó làm thế nào con người chịu đựng nổi kiếp sống này? Bất hạnh thay, một niềm tin kiểu đó cũng đem lại cho kẻ xấu sự can đảm đủ để phạm những tội ác tày đình, nhân danh điều Thiện và nhân danh Chúa!”
Giáo hoàng Alexander không ưa thích sự lộng lẫy thuần túy. Cung điện của ông, Vatican, phải gợi ra mọi lạc thú nơi chính các tầng trời. Ông hiểu rằng ngay cả những con người với tâm hồn cao cả cũng lóa mắt bởi những biểu hiện vinh hoa trần thế của Chúa, như Giáo hội Công giáo La Mã phô bày. Quần chúng chấp nhận Giáo hoàng làm người đại diện của Chúa Jesus nơi trần gian, bất khả ngộ và tối khả kính, nhưng đám các ông hoàng bà chúa lại có đức tin kém hơn. Những kẻ dòng dõi quý tộc này cần phải được thuyết phục bằng vàng ngọc châu báu, bằng lụa là gấm vóc kiêu sa; bằng chiếc mũ miện cao sang quý giá trên đầu ông và những đường thêu bằng chỉ vàng chỉ bạc hoa mĩ, lộng lẫy trên triều phục Giáo hoàng của ông, những bảo vật đã được truyền thừa qua bao thế kỉ, được trân trọng gìn giữ và quý giá ngoài sức tưởng tượng.
Alexander biết rằng nếu ông không thể thống nhất những thành bang phong kiến thành một nước Ý dưới sự cai trị của Tòa Thánh, thì bọn man rợ Thổ Nhĩ Kỳ-lũ ngoại đạo-chắc chắn sẽ xâm chiếm hết. Chúng sẽ hành quân đến các lãnh thổ La Mã bất cứ khi nào có cơ hội.
Nhưng quan trọng hơn cả, nếu ông không đủ khả năng giữ được lòng trung thành của dân chúng và bảo vệ thành Rome khỏi sự xâm lăng của ngoại bang, nếu ông không thể dùng tư cách Giáo hoàng để tăng cường quyền lực của Giáo hội Đức Mẹ Thiêng Liêng, thì một hồng y khác-chắc chắn là Giuliano della Rovere-sẽ chiếm lấy vị trí Giáo hoàng từ ông và hậu quả là cả gia đình ông sẽ lâm vào cảnh đại họa. Chắc chắn họ sẽ bị kết tội tà giáo và bị tra tấn nhục hình để trừ khử. Toàn bộ tài sản mà ông đã lao tâm khổ tứ gây dựng nên bao nhiêu năm nay sẽ bị cướp đi, cả gia đình sẽ trắng tay. Đó sẽ là một số phận còn tệ hại hơn nhiều so với số phận mà cô con gái yêu của ông sắp phải đương đầu.
Alexander tiến đến bên Lucrezia, lùa mấy ngón tay vào mái tóc dài vàng óng của con gái và cảm thấy lòng mình đau nhói. Ông không thể nói cho chúng nghe điều ông băn khoăn thực sự: rằng ông hiểu rõ trái tim người đàn bà. Ông biết rằng người đàn ông nào mà cô dâng hiến đầu tiên sẽ là người giành được tình yêu và lòng trung thành của cô. Bởi một khi cô đã trao thân cho anh ta thì cô cũng sẽ trao cả những chiếc chìa khóa của trái tim và linh hồn. Nhưng ông phải tìm ra một phương kế để bảo đảm rằng con gái ông sẽ không dâng chiếc chìa khóa đi vào vương quốc.
Ông đã không nghĩ đến chuyện cảnh báo cậu con về một cái bẫy của tình yêu: tình yêu đích thực đem lại uy lực cho người đàn bà và mang đến nguy hiểm cho người đàn ông. Ngay lúc này ông có thể thấy rằng dù hôm nay có thể là một ơn phước cho cô con gái và củng cố triều đại Borgia, nhưng lại có thể là một lời nguyền cho con trai mình.
Nhưng Alexander cũng có những suy tính khác trong đầu. Là Đức Thánh Cha ông hiểu trái tim và linh hồn của con dân và ông biết họ thích được mục kích cảnh tượng ngoạn mục, vì điều đó khẳng định với họ lòng độ lượng của ông cũng như lòng độ lượng của Đấng Cha Trên Trời và giúp giảm bớt cái uể oải trong cuộc sống buồn tẻ, vô vị của họ. Dù lễ hội được tổ chức với lí do gì cũng đem lại niềm hi vọng mới cho thành đô và thường giúp ngăn chặn những kẻ tuyệt vọng trong đám thần dân không giết chóc lẫn nhau chỉ vì những tranh cãi lặt vặt.
Cuộc sống của những thần dân kém may mắn hơn thiếu thốn niềm vui đến độ ông cảm thấy có trách nhiệm phải đem lại cho họ vài hạnh phúc nho nhỏ để nuôi dưỡng linh hồn. Vì còn cách gì khác có thể bảo đảm sự hậu thuẫn của họ với giáo triều? Nếu những hạt giống ganh tị cứ mãi được gieo vào trái tim của những con người bị buộc phải chứng kiến bao trò hoan lạc của những kẻ kém xứng đáng nhưng lại nhiều may mắn hơn mình thì làm sao người cai trị đòi hỏi lòng trung thành của họ? Lạc thú phải được chia sẻ, vì chỉ có cách đó mới giữ cho tầng lớp bần cùng khỏi cơn tuyệt vọng.
Cesare hiểu rằng mặt trận quan trọng nhất mà chàng phải chiến đấu là thực hiện cái chí riêng mình hằng ấp ủ. Bởi tình yêu có thể lấy mất ý chí mà không cần đến vũ khí. Và Cesare thực sự yêu thương cha mình. Tuy vậy chàng đã nghiên cứu những chiến thuật của cha khá lâu đủ để biết ông có thể làm đến những chuyện gì và chàng biết rằng bản thân mình sẽ không bao giờ hạ mình làm những chuyện phản trắc. Trong suy nghĩ của Cesare, chuyện cướp đi của cải, tài sản, hay ngay cả mạng sống vẫn không thể kinh khủng bằng việc tước đoạt ý chí tự do của người khác. Bởi không có ý chí tự do, con người chỉ còn là một con rối của những nhu cầu bản năng, một con thú kéo đồ nặng tuân phục tiếng vút của ngọn roi trong tay người khác. Và chàng đã thề mình sẽ không bao giờ làm con thú đó.
Mặc dầu Cesare hiểu dụng ý của cha khi yêu cầu chàng ăn nằm với Lucrezia, chàng nghĩ mình cũng phải gánh luôn nhiệm vụ yêu nàng. Sau lần ái ân đầu tiên đó, chàng đánh lừa bản thân tin rằng đó là lựa chọn của chàng. Nhưng vẫn còn một con bài chưa lật. Lucrezia đã yêu với một trái tim trọn vẹn đủ để thuần hóa con thú hoang dã nhất, và như thế, dẫu không hay biết, nhưng nàng đã trở thành ngọn roi được ông bố sử dụng.
Là Đức Thánh Cha, ông đi đến một kết luận lạnh người: sự sợ hãi làm cho con người hành động chống lại ngay cả những quyền lợi thiết thân nhất của mình. Sợ hãi biến họ từ con người của lí trí thành kẻ khờ khạo ẻo lả; nếu không phải thế thì tại sao Il Moro lại bắt tay với nước Pháp trong khi chẳng có cơ may chiến thắng nào dành cho ông ta? Chẳng lẽ ông ta lại không thể dự đoán được rằng khi một đạo quân nước ngoài đi vào thành phố, mọi người dân đều gặp nguy hiểm? Phụ nữ, trẻ em, đàn ông đều rơi vào hiểm họa. Nghĩ đến đó, Giáo hoàng thở dài.
Trong thời khắc sóng gió nhất, một số kẻ hành xử tàn độc hơn cả. Cái ác chảy trong từng nhịp đập, qua từng mạch máu, giúp mang lại sinh khí cho chúng và đánh thức mọi giác quan. Do vậy, khi hành hạ tra tấn đồng loại, chúng cũng có niềm khoái cảm y hệt như khi làm tình. Chúng bám chặt vào một đấng Thượng Đế toàn năng, chuyên trừng phạt mà tự chúng dựng nên và sự cuồng tín mê muội đó khiến chúng sống trong ảo tưởng.
Giáo hoàng thu xếp cho cuộc gặp gỡ diễn ra nơi vườn hoa của Vatican. Nhưng việc tính toán thời gian là vô cùng quan trọng. Alexander biết rằng mình không thể đến trước nhà vua và tỏ vẻ như chờ đợi, và tuy thế, điều cũng quan trọng không kém, đó là nhà vua không đến trước và phải chờ đợi. Đây là điểm mà tài ngoại giao của Alexander tỏ ra điêu luyện nhất.
“Thưa Đức Thánh Cha, con muốn giới thiệu vị thầy thuốc riêng và chiêm tinh gia của con, Simon xứ Pavia. Việc ông ấy giải đoán các vì sao ảnh hưởng đến quyết định của con hơn bất kì yếu tố nào khác, khiến con bác bỏ những lời thúc giục của hồng y della Rovere và đặt trọn niềm tin vào Đức Thánh Cha.”
Nhưng Cesare đã quen với mánh này của cha mình rồi-vẻ vui đùa ngụy trang cho một ý đồ nghiêm túc. “Nó là em con mà,” Cesare nói với vẻ cung kính. “Vậy nên con thương nó vì tình nghĩa anh em.” So với lòng căm ghét đứa em trai kế, Cesare còn giấu giếm những bí mật ghê gớm hơn nhiều-những bí mật có thể hủy hoại cuộc đời chàng, mối quan hệ của chàng với cha mình, với Giáo hội, và với bao người thân khác. Vậy nên chàng cũng chẳng buồn che giấu chuyện mình không thích Juan. Chàng phá ra cười. “Tất nhiên, nếu nó không phải là em con thì có thể nó sẽ là kẻ thù của con.”
Vũ khí tối thượng của Alexander là khả năng tạo cho người khác cảm tưởng an lạc khi ở bên cạnh ông, khả năng khiến cho ai cùng tin rằng ông đặt lợi ích của họ lên trên hết, và thế là chiếm được lòng tin cậy của họ, họ tin vào ông còn hơn tin vào chính mình. Đây mới chính là hành vi lừa lọc.
Trong một thoáng Alexander trông có vẻ bối rối, rồi ông chau mày. “Bội ước gì chứ, Cesare?” Ông nói. “Con đang nói gì thế, hở con trai? Ta chỉ hứa không can thiệp chuyện hắn chinh phục Naples. Chứ có lần nào ta nói là ta cho phép hắn giữ lại xứ đó không.” Duarte mỉm cười. “Tôi không nghĩ nhà vua trẻ có thể lãnh hội chỗ khác biệt nho nhỏ đó.”
Rút phép thông công là lời tuyên bố xử phạt quyết liệt nhất và là công cụ uy mãnh nhất thể hiện quyền lực của Giáo hoàng. Bởi đó là một hình phạt không chỉ đối với kiếp này mà còn đến tận kiếp sau. Khi bị khai trừ khỏi Giáo hội, kẻ đó không còn được hưởng ơn phước của bí tích thánh thể. Linh hồn hắn sẽ không được thanh tẩy khỏi tội lỗi qua việc xưng tội; những vết hoen ố sẽ mãi mãi còn lưu dấu mà không được thứ tha, mọi cơ hội xá miễn bị từ chối. Không còn được làm phép hôn phối, con sinh ra không được làm lễ rửa tội, không được chúc phúc và không được rảy nước thánh để bảo vệ khỏi quỷ dữ.
“Đây có thể là thời điểm để xem xét tổ chức một lễ hội khác, bởi dân chúng trong kinh thành đang nhốn nháo, và họ cần hội hè để không gây ra những chuyện lộn xộn.”
PHẦN HAI
“Tôi không tin là anh ta phạm tội, thưa đức ông. Và tôi xin nêu lên những lí do. Bằng chứng cho thấy là Juan Borgia bị đâm đến chín nhát… vào lưng. Đó không phải là phong cách của Cesare Borgia. Anh ta là một chiến binh dũng mãnh, nên với mỗi kẻ thù chỉ cần một nhát đâm là đủ giải quyết. Và với một người như Cesare Borgia, muốn coi là chiến thắng thì trận đấu phải là mặt-đối-mặt. Ám sát lúc nửa đêm nơi những con đường tối rồi vất xác nạn nhân xuống sông là những hành động không nhất quán với bản chất của anh ta. Trên hết, chính điểm này đã thuyết phục tôi rằng anh ta vô tội.”
“Này anh bạn, họ đề nghị không được có nhân tình. Với tư cách Giáo hoàng, ta không thể kết hôn, và do vậy Julia yêu quý của ta sẽ không được ở trên giường ngủ của ta hay bên cạnh ta. Ta không bao giờ cho phép điều đó. Nguy hiểm hơn nữa, không được phép có tài sản cho con cái ta ư? Không có những lễ hội cho thần dân ư? Thật nhảm nhí, Duarte à, vô cùng nhảm nhí, và ta thấy thật đáng phiền lòng vì các vị hồng y lại trở nên quá hững hờ với nhu cầu của dân chúng đến thế.”
Giờ đây Cesare cảm thấy hốt hoảng. Chàng biết rằng khi cha mình lặng lẽ không nói là khi ông giận dữ nhất.
Không một lời phản bác nào được nêu lên khi Ascanio, quay về phía Lucrezia, long trọng tuyên bố, lớn tiếng và quả quyết, rằng nàng là Femina intacta! (Trinh nữ). Ngay trong chiều hôm đó, nàng lên đường quay về tu viện để chờ ngày khai hoa nở nhụy.
Đôi mắt Giáo hoàng sáng lên vì thích thú. “Chuyện này đúng là buồn cười thật đấy,” ông nói, “và tin được chứ. Ta cười bởi vì chính ta cũng nức tiếng đào hoa, một tiếng thơm rất được việc cho tình huống này. Và ngày hôm nay ta đã kí một sắc dụ-chưa công bố cho mọi người biết-gọi đứa bé là ‘Infans Romanus’ (Đứa con thành Rome) và tuyên bố rằng ta là cha nó. Mẹ nó cũng không được nêu tên.”
“Con luôn sẵn sàng phục vụ Đức Thánh Cha. Và nếu anh chàng đó thiện lương như vẻ bề ngoài, vậy chẳng có gì băn khoăn vì Cha Trên Trời sẽ rất vui khi đón nhận linh hồn chàng ta.”
Don Michelotto biểu lộ sự đồng tình. “Bổn phận của ngài là giữ cho hắn khỏi sa chước cám dỗ, và bổn phận của con là trợ thủ cho ngài theo bất kì cách nào mà con có thể.”
“Nghe này, con trai,” ông nói. “Con người mất niềm tin khi những oan nghiệt của cuộc đời trở nên quá sức chịu đựng đối với họ, họ kêu cầu đến một Thượng Đế vĩnh hằng, đầy tình thương. Họ kêu cầu từ tâm vô hạn của ngài. Họ kêu cầu Hội Thánh. Nhưng niềm tin phải được phục sinh bằng hành động. Ngay cả các vị thánh cũng là những con người hành động. Ta chẳng hề quan tâm đến những con người thánh thiện tự hành xác mình, hàng bao năm trời suy nghiệm về những bí ẩn của nhân loại trong tu viện. Họ chẳng làm được gì nhiều cho Giáo hội; không giúp duy trì được Giáo hội trên trần gian này. Chính những người như con, như ta phải chu toàn bổn phận đặc thù của chúng ta. Cho dầu là,” và đến đây Alexander đưa lên một ngón tay hiệu lệnh kiểu Giáo hoàng, “linh hồn của chúng ta phải nằm trong Luyện ngục một thời gian. Hãy nghĩ đến biết bao nhiêu linh hồn tín đồ Ki-tô hãy còn chưa sinh ra mà chúng ta sẽ cứu vớt trong hàng trăm năm sắp tới. Những kẻ sẽ tìm thấy cứu rỗi trong một Hội thánh Công giáo mạnh mẽ. Đọc kinh cầu và xưng tội là niềm an ủi về những chuyện ta đã làm. Sá gì đám theo Chủ nghĩa nhân văn-tín đồ của các triết gia Hy Lạp-tin rằng chỉ có con người là hiện hữu. Vẫn có một Thượng Đế Toàn Năng, đầy từ tâm và toàn trí. Đấy là niềm tin của chúng ta. Và con phải tin. Cứ sống với các tội lỗi của con, xưng tội hay không tùy con, nhưng đừng bao giờ mất niềm tin-vì ngoài đức tin, ta không còn gì cả.”
“Này Cesare hãy yêu Giáo hội hơn và bớt yêu cha anh đi. Hãy chứng tỏ sự phục tùng đối với ta bằng hành động chứ không phải bằng những cử chỉ hình thức. Anh là con ta và ta tha thứ mọi tội lỗi của anh-như bất kì ông bố đẻ nào.”
Ông biết rằng trên tất cả, Thiên Chúa là Chúa Lòng Lành, và sẽ tha thứ mọi kẻ có tội. Đó là viên đá tảng trong niềm tin của ông. Ông không bao giờ nghi ngờ mục tiêu của Chúa là tạo ra hạnh phúc và niềm vui trong thế gian này.
Doria Rosamundi có thể là một vị thánh trắng, không phải thánh đỏ. Nghĩa là cô ta có thể được phong thánh vì sống một đời đức hạnh không có gì đáng chê trách: một cuộc đời thanh bần, khiết bạch và đầy thiện nghiệp, được điểm xuyết với một vài phép lạ không chắc có thực. Mỗi năm có hàng trăm yêu cầu na ná như thế. Alexander không mấy cảm tình với các vị thánh trắng; ông ưu ái những người tử vì đạo cho Hội Thánh hơn-những vị thánh đỏ.
Vào thời điểm đó Alexander thấy rằng con người này thành tâm, rằng ông ta thực sự tín mộ. Thế là, với niềm vui của một con bạc biết chắc mình thắng vì đã thấy rõ con bài tẩy của đối phương trước khi lật bài, Alexander ném ra yêu cầu gấp đôi con số mà ông đã dự trù trước đây: “Quỹ của chúng ta dành cho Thập tự chinh cần năm trăm ngàn ducat,” ông hét giá. “Vậy là thế giới Ki-tô có thể dong buồm tiến về Jerusalem.”
Không một ai trong số các vị hồng y còn lại từng giải quyết một thỉnh cầu như thế, bởi được làm hồng y là mộng ước của hầu hết dân Ý. Được tuyển làm hồng y là vươn tới những cấp bậc cao trong Giáo hội, và được trọng vọng vô cùng, bởi mỗi hồng y đều được xem là ứng cử viên cho chức Giáo hoàng tương lai. Phần lớn các hồng y đang hiện diện đều đã qua bao năm trường phấn đấu làm việc cật lực, cầu nguyện-và thỉnh thoảng phạm tội-mới đạt đến địa vị hiện tại, và do vậy thỉnh cầu của Cesare vừa khó hiểu vừa ngạo mạn. Tự nguyện trút bỏ áo mũ hồng y quả là một sự sỉ nhục đối với danh dự của Hồng y đoàn.
Cuộc bỏ phiếu được nhất trí thông qua, số bổng lộc đã cuốn phăng hết mọi ngờ vực.
Và như thế là, khi Giáo hoàng nằm trần truồng trên một cái bàn cao, với hai cô gái hấp dẫn đang đấm bóp lưng và xoa các cơ đùi, ngài đại sứ Pháp Georges d’Amboise vào hội kiến. Duarte mỉm cười dẫn ông ta vào phòng khách, rồi nhanh chóng cáo từ.
PHẦN BA
“Trong vai trò thư kí, hắn chỉ thực hiện những nhiệm vụ nhỏ nhặt, không quan trọng. Giá trị đích thực của hắn đối với ta nằm ở chỗ khi nào ta muốn chuyện đến tai della Rovere, ta chỉ cần nói với Burchard. Đó là cách truyền tin tuyệt vời và hữu hiệu và cho đến nay vẫn phục vụ tốt cho ta.”
Biết người ta nói gì vẫn tốt hơn là để họ giấu kín trong lòng.
Giờ đây nàng cảm thấy đồng cảm với những ai là nạn nhân của tình yêu, và trong thời khắc ấy, tình yêu dường như còn phản trắc hơn chiến tranh rất nhiều.
Chúng quên rằng nếu làm thế thì những bức tường đó sẽ không còn vững nữa, bởi móng phải được gia cố mới chịu được sức nặng lũy tiến kia.
thừa biết rằng dăm ba đồng ducat là quá đủ để khiến cho đứa điếc lại thính tai như ma xó, còn thằng mù thì lại thấy rõ để xỏ lỗ kim. Bởi đối với những kẻ cùng khổ thì vàng có khả năng tạo ra nhiều phép lạ hơn cả lời nguyện cầu.
“Có lẽ ông đúng đấy, Don Ercole ạ,” Duarte tinh quái trả miếng, “những thành bang mà chúng tôi đã chinh phục trong năm nay chứa rất nhiều tác phẩm của những nghệ sĩ tài hoa mà ông vừa kể. Cesare đề xuất đưa các tác phẩm ấy về đây, nhưng Đức Thánh Cha từ chối. Tôi vẫn hi vọng thuyết phục ngài hiểu giá trị của những tác phẩm nghệ thuật cỡ đó và chúng sẽ làm tăng thêm danh giá cho Vatican như thế nào. Quả thực là vừa mới đây thôi chúng tôi đã bàn luận về thành phố của ông, Ferrara, có bộ sưu tập lớn nhất và giá trị nhất trong tất cả-thêm vào đó, còn đầy vàng bạc.”
“Nếu có một Chúa Trời, như Đức Thánh Cha mô tả, thì Người không có ý cho rằng chúng ta không bao giờ được chém giết-vì nếu không thế thì làm gì có thánh chiến? Điều răn ‘Người sẽ không chém giết’ nghĩa là chém giết mà không vì lí do chính đáng thì mới trở thành tội lỗi. Chúng ta đều biết rằng treo cổ một tên giết người đâu phải là tội lỗi mà là thực thi công lí.”
Nàng không chắc mình hiểu rõ thiện ác là gì, đặc biệt là khi điều ác lại ẩn giấu nơi những góc khuất mờ tối trong tâm hồn của những người nàng yêu dấu.
rất lâu sau đó nàng nhận ra cuộc sống còn đòi hỏi phải hi sinh.
“Này, các quý ông, hãy nhảy cỡn lên trên các em ngựa cái này bất cứ lúc nào tùy thích. Nhớ nhé, phải cưỡi ngựa trong tư thế đứng từ sau mông các em đẩy tới. Và để thưởng cho mỗi lần thành công, các cô ấy được phép nhặt lên một hạt dẻ bằng vàng nằm ở trên sàn để bỏ túi. Tất nhiên, các kiều nữ xinh tươi này được phép giữ những hạt dẻ vàng mà họ nhặt được như những món quà nho nhỏ cho trò vui mà họ đã cho chúng ta.”
“Ta đã nói về mặt xấu xa của quyền lực,” Alexander vừa nói vừa hớp hơi để thở. “Nhưng ta e rằng ta chưa bao giờ giải thích điều đó cho thấu đáo. Ta đã cảnh báo con về mặt trái của quyền uy mà không khuyến khích con tìm hiểu nó cho thấu đáo. Ta chưa bao giờ giải thích rằng lí do chính đáng duy nhất để thực thi uy quyền là phụng sự tình yêu.”
“Nếu con không biết yêu thương, lúc đó quyền lực là sai lầm, và quan trọng hơn nữa, đó là một mối đe dọa. Vì quyền lực rất nguy hiểm, có thể phản bội con bất cứ lúc nào.”
“Tự thân quyền lực chẳng chứng tỏ được điều gì. Nó chỉ là sự áp đặt của người này lên người khác. Chẳng có gì là phẩm hạnh cả.”
“Không có tình yêu, quyền lực đưa con người gần với súc vật hơn là gần thiên thần.”
Con người này trước đây chẳng bao giờ để lộ ra những gì mình định làm, ngay cả nói bóng gió cũng không. Thế mà giờ đây lại nói toạc cho thiên hạ nghe những kế hoạch mà mình không còn đủ khả năng thực hiện.
“Nghe đây, con trai, con người đánh mất niềm tin. Những tàn khốc nghiệt ngã của thế gian là quá sức chịu đựng đối với họ, và vì thế họ nghi ngờ một Thượng Đế vĩnh hằng và yêu thương vô lượng; họ nghi ngờ lòng từ ái vô biên của Người. Họ đặt vấn đề về Hội Thánh. Nhưng con người phải dùng hành động để giữ vững niềm tin. Ngay cả các vị thánh cũng là những con người hành động. Cha chẳng thèm để tâm đến những kẻ tự hành xác, suốt đời lánh mình trong tu viện, suy ngẫm về nhân loại. Họ chẳng làm gì được cho Giáo hội, chẳng giúp Giáo hội tồn tại được trong cõi trần thế này. Chính những người như con và ta phải thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Cho dù là,” và đến đây Alexander đưa lên ngón tay hiệu lệnh của Giáo hoàng, “linh hồn chúng ta có thể phải ở trong Luyện ngục một thời gian. Khi ta nguyện cầu, khi ta xưng tội, đấy là niềm an ủi cho những điều khủng khiếp mà ta buộc phải làm. Các nhà nhân văn chủ nghĩa-những tín đồ của triết học Hy Lạp tin rằng chỉ có con người là hiện hữu-có nói gì thì cũng chẳng thành vấn đề. Có một Thượng Đế toàn năng và Người cũng kiêm ái và toàn tri. Đó là niềm tin của chúng ta. Và con phải tin. Cứ sống với những tội lỗi của con, thú tội hay không tùy con, nhưng đừng bao giờ đánh mất niềm tin.”
PHẦN KẾT
Nhưng cha nàng, Giáo hoàng, với nụ cười tinh quái nhưng hài hước, nhắc nhở rằng không gì giả dối cho bằng sự ăn năn của kẻ phạm tội. Xét cho cùng, một con người như thế là một thí dụ điển hình cho những kẻ yếu đuối, dễ bị thời cuộc đẩy đưa.