Quyển Một: XỨ CÁT
“Con người sống tốt nhất khi mỗi người đều có chỗ đứng của mình, khi mỗi người đều biết anh ta ở vị trí nào trong bối cảnh chung.
Tiêu diệt chỗ đứng là tiêu diệt con người. Trong số tất cả những người yêu mến Công tước thì ông và tôi, Thufir ạ, được đặt ở vị trí lý tưởng nhất để tiêu diệt chỗ đứng của nhau.
“Thufir, tôi muốn ông xem lại thái độ kích động của mình khi thảo luận vấn đề này. Con người tự nhiên là một động vật không có logic. Việc ông xem xét mọi chuyện bằng đầu óc logic là không tự nhiên, nhưng vẫn buộc phải tiếp tục làm thế vì tính hữu ích của nó. Ông là hiện thân của logic-một Mentat.
Hawat cố nuốt nước bọt trong cổ họng khô khốc. Mệnh lệnh của cô ta thật dứt khoát, uy nghiêm như của một bà hoàng-được thốt ra bằng cái âm điệu và cách nói mà ông nhận ra mình hoàn toàn không cưỡng lại được. Thân thể ông tuân theo lệnh của cô ta trước khi ông kịp nghĩ. Không gì ngăn cản được hành động đáp lại vừa rồi của ông-logic không, cơn giận sôi sục cũng không... không gì cả. Làm được như thế chứng tỏ cô ta hiểu sâu sắc, thấu tận tâm can con người bị cô ta điều khiển theo cách đó, một cấp độ điều khiển mà có nằm mơ ông cũng không hình dung nổi.
Đêm nay có một điều gì đó xảy ra trong ý thức cậu-cậu nhìn thấy mọi tình huống và sự kiện xung quanh mình một cách thật rõ ràng, sắc nét. Cậu cảm thấy không thể chặn cái dòng dữ liệu đang chảy dồn dập vào trong tâm trí cậu hay sự chính xác đến lạnh lùng khi mỗi một điều mới được thêm vào vốn hiểu biết của cậu và sự tính toán được đặt vào giữa ý thức cậu. Đó là năng lực Mentat và còn hơn thế nữa.
“Không!” cậu nói. “Là người Fremen! Họ đang trả tiền cho Hiệp hội để mua sự riêng tư, trả bằng loại tiền mà bất kỳ ai có sức mạnh sa mạc đều có-hương dược. Đây không chỉ là một câu trả lời thuộc phép tính xấp xỉ bậc hai; đó là tính toán tuyến tính.
Và giờ cậu thấy mình có một nguồn dữ liệu dồi dào mà từ trước tới nay ít có trí tuệ nào như vậy từng chứa đựng được. Nhưng điều này không giúp cậu chịu đựng vùng trống trong mình dễ dàng hơn. Cậu cảm thấy phải phá hủy một cái gì đó. Như thể một cái đồng hồ hẹn giờ cho một quả bom đã được cài đặt kêu tích tắc bên trong cậu. Nó tiếp tục công việc của mình bất kể cậu muốn hay không. Nó ghi lại những sắc thái khác nhau nhỏ xíu xung quanh cậu-sự thay đổi rất nhỏ trong độ ẩm, sự hạ thấp chút xíu của nhiệt độ, bước tiến của một con sâu bò ngang qua nóc căn lều, sự hé rạng uy nghi của bình minh trên mảnh trời rạng ánh sao mà cậu có thể nhìn qua vách lều trong suốt.
“Đừng quá tin chắc là mẹ biết vạch ra giới hạn ở đâu,” cậu nói. “Chúng ta mang theo quá khứ. Và, thưa mẹ của con, có một điều mẹ không biết và nên biết-chúng ta là Harkonnen.”
Đứa con gái mà Bene Gesserit muốn, nó không phải để chấm dứt mối hận thù giữa Atreides với Harkonnen, mà là để
cố định hệ số di truyền nào đó trong huyết thống của họ.
“Đúng. Họ sẽ gọi con là... Muad’Dib, ‘Người Chỉ Đường’. Đúng... đó là cái tên họ sẽ dùng để gọi con.”
Quyển Hai: MUAD’DIB
“Đó là một lời nguyền khi trở thành Mentat. Anh không thể ngừng phân tích dữ liệu.”
“Người Fremen không thích nói từ không,” một lần Idaho đã nói với ông như thế.
Người Fremen vuốt ve con dơi, nựng nịu nó, hát khe khẽ với nó. Ông ta uốn cong đầu con vật lên trên, cho một giọt nước bọt từ miệng ông rơi xuống cái miệng đang chĩa lên của nó. Con dơi giang cánh nhưng vẫn đậu trên bàn tay để mở của người Fremen. Ông ta lấy một chiếc ống bé xíu, gài vào bên đầu con dơi rồi nói liên tục một hồi vào chiếc ống; sau đó ông ta nâng con vật lên cao, tung nó lên trời.
“Người bạn nhỏ của tôi mang tin đi đấy,” người Fremen nói. “Nó là một người đưa tin giỏi-ngày cũng như đêm. Tôi sẽ rất buồn nếu để mất nó.”
“Quân Sardaukar trên Arrakis là một thước đo cho thấy Hoàng đế kính mến của chúng ta sợ cha tôi như thế nào. Bây giờ, chính tôi sẽ khiến cho Hoàng đế Padishah có những lý do để sợ...”
phá hủy hoàn toàn. Ta sẽ đối mặt với nỗi sợ. Ta sẽ để nó đi khắp người ta và xuyên qua ta. Rồi khi nó đã đi qua, ta sẽ xoay con mắt bên trong để nhìn đường đi của nó. Ở những nơi nỗi sợ đi qua chẳng còn gì cả. Chỉ còn lại chính ta.”
Người ta phải luôn luôn giữ những công cụ của thuật trị quốc sao cho thật sắc nhọn và luôn sẵn sàng.
Nhìn con gà này đi, Nam tước nghĩ. Vây quanh ta toàn những cục đất vô dụng như thế đấy. Nếu ta tung cát trước mặt tên này và bảo đó là ngũ cốc, hắn sẽ mổ ngay cho xem.
“Cách kiểm soát và điều khiển một Mentat, Nefud ạ, là thông qua tin tức ông ta thu được. Tin tức sai sẽ dẫn đến kết quả sai.”
“Sự vắng mặt của một thứ cũng có thể gây chết người như sự có mặt của nó,”
Một trong những Mentat ghê gớm nhất trong lịch sử, một Mentat được huấn luyện để giết người, vậy mà bọn chúng sẽ ném hắn cho ta giống như thứ đồ chơi ngớ ngẩn bị hỏng. Ta sẽ cho chúng thấy món đồ chơi như thế có thể dùng vào việc gì.
Đến lúc đó, khi ta cử Feyd-Rautha tới cởi bỏ gánh nặng cho bọn họ, họ sẽ tung hô vị cứu tinh của mình. Feyd-Rautha yêu quý. Feyd-Rautha nhân từ, con người giàu lòng trắc ẩn cứu họ thoát khỏi tên bạo chúa. Feyd-Rautha, một vị cứu tinh xứng đáng để mọi người đi theo và chết vì Người. Lúc đó thằng bé sẽ biết phải đàn áp bằng cách không trừng phạt như thế nào. Ta chắc chắn nó đúng là người chúng ta cần. Nó sẽ học được. Và một thằng bé đáng yêu như thế. Quả thực là thằng bé rất đáng yêu.
“Uống hết nước của mẹ đi,” Paul nói. “Chân lý là: nơi giữ gìn nước của bạn tốt nhất chính là cơ thể bạn. Nó giúp cho sức lực mẹ tăng lên. Mẹ khỏe lên. Hãy tin vào bộ sa phục của mẹ.”
Sự giàu có thực sự của một hành tinh nằm ở phong cảnh của nó, ở việc chúng ta dự phần thế nào vào cái nguồn gốc cơ bản đó của nền văn minh-nông nghiệp.
“Thật kỳ lạ biết bao khi có quá ít người từng ngẩng đầu lên khỏi đám hương dược đủ lâu để tự hỏi do đâu sự cân bằng gần như lý tưởng giữa N2-O2-CO2 lại được duy trì ở đây trong khi không hề có những vùng thực vật rộng lớn. Quyển năng lượng của hành tinh này nằm sờ sờ đó, nhìn là hiểu-một quá trình dữ dội, đúng vậy, nhưng dẫu sao vẫn là một quá trình. Thiếu một mắt xích ở đó ư? Thì một cái gì đó sẽ bổ
“Tôn giáo và luật pháp giữa đám dân của chúng ta phải là một và giống như nhau,” cha ông nói. “Mỗi hành động bất tuân phải là một tội lỗi và cần đến những hình phạt tôn giáo. Điều này sẽ có một lợi ích kép: họ vừa tuân lệnh hơn vừa dũng cảm hơn. Chúng ta không được trông cậy quá nhiều vào lòng dũng cảm của từng cá nhân, con biết đấy, mà nên trông cậy vào lòng dũng cảm của toàn bộ dân chúng.”
rằng các yếu tố cấu tạo bền vững nhất của vũ trụ là ngẫu nhiên và sai lầm.
“Trừ phi cô được huấn luyện kỹ lưỡng ngay từ bé để sống ở đây, còn nếu không, cô có thể mang sự phá hủy đến cho toàn thể một bộ tộc. Đó là luật lệ, và chúng tôi không thể đem theo một người vô dụng...”
Vậy ra Missionaria Protectiva của chúng ta thậm chí đã gieo những cái van an toàn tín ngưỡng lên khắp chốn địa ngục này. Chà, tốt thôi... nó sẽ có ích, và họ làm thế cũng chỉ nhằm mục đích ấy.
Sietch: một nơi tụ họp những khi nguy hiểm.
Người Fremen đạt được mức cao nhất trong cái phẩm chất mà người cổ đại gọi là “spannungsbogen”-sự trì hoãn tự áp đặt giữa lòng khao khát một cái gì đó với hành động vươn tay ra nhằm nắm được nó.
“Họ tuân theo sự bảo toàn bộ tộc,” ông nói. “Đó là cách chúng tôi chọn ra một thủ lĩnh giữa những người của mình. Thủ lĩnh là người mạnh nhất, người đem lại nước và sự an toàn.” Ông chuyển sự chú ý sang khuôn mặt nàng.
“Chúng tôi biết lý do, nhưng cái vị của nó làm chúng tôi chua chát. Chúng tôi đút lót Hiệp hội một lượng hương dược khổng lồ để giữ cho bầu trời của chúng tôi không có vệ tinh nhân tạo và sao cho không ai do thám được chúng tôi làm gì với diện mạo của Arrakis.”
“Chúng tôi thay đổi nó... chậm nhưng chắc chắn... biến đổi nó cho phù hợp với cuộc sống con người. Thế hệ chúng tôi sẽ không nhìn thấy điều đó, đời con chúng tôi không nhìn thấy, đời cháu chắt chúng tôi cũng không... nhưng ngày đó sẽ đến.” Đôi mắt che kín mít của ông nhìn khắp vùng lòng chảo. “Nước lộ thiên, cây xanh cao vút, con người đi lại tự do không cần sa phục.”
khoản đút lót rất nguy hiểm; chúng có chiều hướng ngày một lớn.”
nàng đã đầu hàng trước cái nỗ lực sâu xa mà loài sinh vật nào khi đối mặt với cái chết cũng đều có-nỗ lực tìm kiếm sự bất tử thông qua con cháu. Nỗ lực sinh sản của loài đã khuất phục họ.
“Đối với một thủ lĩnh, điều quan trọng là cái đã làm ông ta trở thành thủ lĩnh. Đó là những nhu cầu của dân tộc ông ta.
“Trong số các chàng trai của tôi có những người đã đến độ tuổi ngông cuồng,” ông nói. “Suốt thời kỳ này phải xoa dịu họ. Tôi phải không cho họ có lý do to tát nào để thách thức tôi. Bởi vì tôi sẽ phải làm họ bị thương tật và giết họ. Đây không phải cách giải quyết
đúng đắn của một thủ lĩnh nếu có thể tránh được điều đó trong danh dự. Một thủ lĩnh, cô biết đấy, là một trong những thứ phân biệt một bầy đàn với một dân tộc. Anh ta duy trì vị trí của những cá nhân. Nếu quá ít cá nhân thì một dân tộc lại trở thành một bầy đàn.”
“Ông có tin tôi chính là người đó.” Nàng quan sát khuôn mặt ông, thầm nghĩ: Cây sậy non chết quá dễ. Những lúc khởi đầu là những khoảng thời gian vô cùng nguy hiểm.
Ông ta là người đáng trọng. Ông ta muốn một dấu hiệu từ ta, nhưng ông ta sẽ không làm nghiêng định mệnh bằng việc nói cho ta biết cái dấu hiệu đó.
Ý thức chảy vào cái địa tầng vô thời gian đó nơi cậu có thể nhìn thấy thời gian, cảm thấy những con đường sẵn có, những luồng gió của tương lai... những luồng gió của quá khứ: thị kiến một mắt của quá khứ, thị kiến một mắt của hiện tại và thị kiến một mắt của tương lai-tất cả kết hợp lại thành một thị kiến ba mắt cho phép cậu nhìn thấy thời-gian-trở-thành-không-gian.
Các người phải nhớ rằng ông là một hoàng đế, người đứng đầu trăm họ của một triều đại từng có lịch sử cực kỳ u tối. Nhưng bọn ta đã không cho ông có một người con trai hợp pháp. Đây chẳng phải là thất bại khủng khiếp nhất mà một nhà cai trị từng phải chịu sao? Mẹ ta đã tuân theo các Xơ Bề trên của bà trong khi Lệnh bà Jessica không tuân theo. Ai trong số hai người là kẻ mạnh hơn? Lịch sử đã trả lời rồi.
Lẽ ra mình phải thấy điều này từ trước mới phải. Anh ta là kẻ ngấm ngầm nuôi những ý tưởng đen tối. Anh ta là loại người ít nói, loại người nung nấu nỗi căm uất trong lòng. Lẽ ra mình phải chuẩn bị từ trước mới phải.
Jessica thấy đứa trẻ-cô gái Chani đang giúp Paul, thấy cô ấn một con dao pha lê vào tay cậu, thấy cậu nhấc nó lên, kiểm tra sức nặng và thế cân bằng của nó. Và Jessica chợt nghĩ Paul đã được huấn luyện về prana và bindu, hệ thần kinh và hệ cơ-rằng cậu đã được dạy chiến đấu ở một ngôi trường chết chóc, thầy của cậu là những người như Duncan Idaho và Gurney Halleck, những người vốn ngay khi đang sống đã trở thành truyền thuyết. Cậu bé biết những phương pháp xảo quyệt của Bene Gesserit, và trông cậu thật dễ dàng thích ứng với hoàn cảnh, thật tự tin.
quanh mình, được huấn luyện để phản ứng khi phòng thủ với tốc độ tối đa nhưng đòn tấn công thì phải được tính toán về thời gian, được kiểm soát sao cho đủ chậm để xuyên thủng tấm chắn của kẻ thù.
Đây mới là lúc anh ta nguy hiểm nhất, nàng nghĩ. Giờ thì anh ta tuyệt vọng và có thể làm bất cứ điều gì. Anh ta hiểu đây không phải một đứa trẻ con cùng dòng giống với anh ta, mà là một cỗ máy chiến đấu bẩm sinh, ngay từ nhỏ đã được rèn luyện để chiến đấu. Giờ thì nỗi sợ mà ta gieo trong lòng anh ta đã bắt đầu đơm hoa kết quả.
của Duncan Idaho tuôn qua ý thức Paul: “Khi đối phương sợ ta, đó chính là lúc ta để cho nỗi sợ nắm quyền thống trị, để cho nỗi sợ có thời gian tác động đến y. Hãy để nó biến thành cơn khiếp đảm. Kẻ đang khiếp đảm thì tự chiến đấu với chính y. Cuối cùng, y tấn công trong tuyệt vọng. Đó là khoảnh khắc nguy hiểm nhất, nhưng ta có thể hy vọng rằng kẻ đang khiếp đảm thường phạm sai lầm chí tử. Ở đây cậu chủ đang được huấn luyện để phát hiện ra những sai lầm đó và tận dụng chúng.”
“Tập trung chú ý vào con dao chứ không phải bàn tay cầm dao.” Gurney Halleck đã nói đi nói lại với cậu: “Con dao nguy hiểm hơn bàn tay, và dao có thể nằm trong tay này hoặc tay kia.”
Tấm chắn không còn có ý nghĩa gì khi chuyển động của cơ thể có thể được dùng để chống lại chính cơ thể đó.
chú ý đến chiếc ống nối chạy suốt từ mặt nàng xuống bộ quần áo để giữ lại và tái tạo phần nước ẩm trong hơi thở.
Một phụ nữ sa mạc sẽ không thích hợp để làm vợ Công tước. Hầu thiếp thì được. Vợ thì không.
“Trong một trận giao chiến, nước thuộc về người chiến thắng,” Chani nói. “Đó là vì anh phải giao chiến ngoài trời, không mặc sa phục. Người thắng phải phục hồi lượng nước anh ta đã mất trong khi giao chiến.”
“Sự sống sót là khả năng bơi trong nước lạ.” Và Jessica nghĩ: Paul và ta, chúng ta phải tìm ra những dòng chảy, những mẫu hình trong những chỗ nước lạ này... nếu chúng ta muốn sống sót.
Một dân tộc như vậy sẽ dễ thấm nhuần sự nhiệt thành và cuồng tín. Có thể sử dụng họ làm thanh gươm để giành lại cho Paul vị trí lẽ ra thuộc về cậu.
Ý niệm về sự tiến bộ vận hành như một cơ chế phòng vệ nhằm che chắn chúng ta trước những nỗi kinh hoàng của tương lai.
Lưu ý hắn ta cho kỹ vào, Feyd! Một tên giết người mang cung cách một con thỏ-đấy chính là loại nguy hiểm nhất.
“Có một nón lặng giữa hai cây cột ở đằng kia, bên trái chúng ta,” Nam tước nói. “Ta có thể trò chuyện ở đó mà không sợ ai nghe trộm.” Ngài lạch bạch dẫn đường về phía khu vực có giảm âm, cảm thấy những tiếng ồn của lâu đài trở nên đùng đục, xa xăm.
“Mỗi bụi cây, mỗi cọng cỏ dại anh nhìn thấy trên biển cát ngoài kia, anh cho là nó sống như thế nào khi chúng ta rời bỏ nó?” chị ta nói. “Mỗi bụi cây, búi cỏ đều được trồng một cách hết sức nâng niu trong một cái hốc con riêng. Những hốc này chứa đầy các thể lạp sắc hình ô van phẳng phiu. Ánh sáng làm chúng chuyển sang màu trắng. Nếu đứng trên cao nhìn xuống, anh có thể thấy chúng lấp lánh trong ánh bình minh. Màu trắng thì phản xạ. Nhưng khi Thái Dương Lão Phụ ra đi, lạp sắc lại chuyển thành trong suốt trong bóng tối. Nó lạnh đi cực nhanh. Bề mặt nó làm ngưng tụ hơi ẩm trong không khí. Hơi ẩm ấy chuyển thành nước, rỉ xuống để giữ cho cây sống.” “Thiết bị thu sương,” cậu lẩm bẩm, thích thú cái vẻ đẹp giản dị của một ý tưởng như vậy.
Chani nâng vòi túi về phía Jessica, nói: “Đây là Nước của Sự sống, thứ nước còn vĩ đại hơn cả nước-Kan, nước làm linh hồn được tự do. Nếu Người là Mẹ Chí tôn, nó sẽ mở vũ trụ ra cho Người.
Jessica cảm thấy bị giằng xé giữa nghĩa vụ với đứa con chưa chào đời và nghĩa vụ với Paul.
Im lặng xoáy tròn trùm xuống quanh Jessica. Từng sợi cơ của thân thể nàng chấp nhận sự thực rằng có một cái gì đó sâu xa đã xảy ra với nó. Nàng cảm thấy mình là một hạt bụi có ý thức, nhỏ hơn bất kỳ hạt hạ nguyên tử nào, nhưng lại có khả năng chuyển động và cảm nhận thế giới xung quanh. Như một sự khải ngộ đột ngột-những bức màn che bị đánh bạt đi-nàng nhận ra mình đã trở nên ý thức được về phần khai triển vận động tâm thức của bản thân mình. Nàng
Mẹ đã làm điều đó, con gái yêu dấu, bé bỏng tội nghiệp, chưa thành hình của mẹ, mẹ đã mang con vào vũ trụ này và phơi trần ý thức của con dưới tất cả sự phức tạp của vũ trụ mà không có gì bảo vệ.
Và nàng nhận ra những lời đó đến từ một ký ức khác, từ cái cuộc đời đã được trao cho nàng và giờ đây là một phần của chính nàng.
“Cứ để họ mặc sức truy hoan,” cái ký-ức-khác kia nói bên trong nàng. “Họ được hưởng quá ít lạc thú từ cuộc sống. Phải, ta và ngươi cần chút ít thời gian này để quen dần trước khi ta rút lui và tuôn chảy thông qua các ký ức của ngươi. Hiện giờ ta đã cảm thấy ta đang bị gắn liền với nhiều mảnh của ngươi rồi. Ái chà chà, ngươi có một tâm trí đầy những điều thú vị. Quá nhiều điều mà ta chẳng bao giờ tưởng tượng ra.” Và cái tâm trí-ký ức gói gọn bên trong nàng tự mở ra cho Jessica, cho phép nàng nhìn thấy một hành lang rộng thênh thang dẫn tới những Mẹ Chí tôn khác cho tới khi con số các Mẹ này dường như vô tận. Jessica thụt lùi lại, sợ mình sẽ mất hút trong một đại dương của cái đồng nhất thể. Thế nhưng cái hành lang vẫn còn nguyên đó, để lộ cho Jessica thấy rằng nền văn hóa Fremen lâu đời hơn nàng tưởng nhiều.
Nhưng Jessica tập trung chú ý vào việc khám phá Nước của Sự sống, nhìn thấy nguồn của nó: chất thải lỏng của một con sâu cát, một Ngài tạo, đang hấp hối.
quyện với tác dụng của thuốc, gộp tương lai và quá khứ vào hiện tại, chỉ dành lại cho cậu vùng biên cực mảnh của tiêu điểm tam nhãn thức.
Họ có một ít cái năng lực đó, tâm trí mách bảo cậu. Nhưng họ đè nén nó bởi nó làm họ sợ.
Quyển Ba: NHÀ TIÊN TRI
Gươm thì nguy hiểm, Feyd ạ. Nhưng với thanh gươm này chúng ta có bao gươm. Độc dược đang nằm bên trong hắn. Khi nào chúng ta ngưng cho hắn uống thuốc giải độc, cái chết sẽ tra hắn vào vỏ.”
Sâu thẳm trong vô thức con người là nhu cầu sâu xa về một vũ trụ logic có ý nghĩa. Nhưng vũ trụ thực thì luôn luôn vượt trước logic một bước.
Nam tước ngẫm nghĩ về tiết lộ này, rồi nói: “Arrakis thì liên quan gì ở đây?” “Nó là cả một kho cung cấp những tân binh đã quen với sự huấn luyện nghiệt ngã nhất để sống còn.”
“Khi tôn giáo và chính trị đi trên cùng một cỗ xe, những người ngồi trên xe tin rằng không gì có thể cản đường họ. Chuyển động của họ trở nên nhanh đến điên rồ; nhanh nữa, nhanh nữa, nhanh hơn nữa. Họ dẹp sang bên mọi ý nghĩ về trở ngại mà quên rằng vực thẳm chỉ bày ra trước mắt kẻ đang mù quáng lao vùn vụt khi đã quá muộn.”
Chừng nào mép trước một khoang thân của sâu còn bị một cái móc mở banh ra, khiến cát lọt vào làm trầy lớp bên trong nhạy cảm hơn, con vật sẽ không chui xuống dưới bề mặt sa mạc. Trên thực tế, nó sẽ rướn cao tấm thân khổng lồ để cho phần khoang bị mở banh kia nhô lên khỏi bề mặt cát càng xa càng tốt.
chàng chỉ việc dịch chuyển những cái móc đó xuống đường cong ở mạn sườn khổng lồ của Ngài tạo là có thể buộc con vật vặn mình, rẽ ngoặt, lái nó đến nơi chàng
chẳng có gì là thần giao cách cảm cả, bà biết. Đó là tau, tính đồng nhất thể của cộng đồng sietch, một sự đền bù có được nhờ thứ chất độc tinh tế của thực đơn hương dược mà họ cùng sử dụng. Đám đông quần chúng không bao giờ có thể mong đạt tới sự khải ngộ mà hạt mầm hương dược đem tới cho bà; họ không được huấn luyện, không được chuẩn bị sẵn sàng cho việc đó. Tâm trí họ khước từ những gì họ không thể hiểu hay lĩnh hội. Thế nhưng đôi khi họ vẫn cảm nhận và phản ứng như thể là một sinh vật đơn nhất.
Mọi người đều biết, nếu sống trong sietch thì đứa trẻ Fremen nào cũng phải khóc trong ngày sinh, bởi vì nó không bao giờ có thể khóc nữa kẻo rồi nó sẽ làm chúng tôi bị lộ trong hajr.”
“Lẽ ra con không nên cảm thấy tủi thân. Nói gì thì nói, ở đây có lý do để cho con hạnh phúc: con là Mẹ Chí tôn. Bộ tộc ta có hai Mẹ...”
“Anh phải đứng trên cát hạt đậu cách Ngài tạo bao xa?” Stilgar từng hỏi chàng. Và chàng đã đáp đúng: “Cứ mỗi mét đường kính của Ngài tạo thì ta đứng cách xa nửa mét.” “Tại sao?” “Để tránh cơn lốc xoáy trên đường đi của Ngài mà vẫn đủ thì giờ để chạy tới cưỡi lên Ngài.”
bức tường đó, ngả người ra tựa vào những lưỡi ngạnh đang bám chắc kia. Đây là khoảnh khắc thực sự của cuộc thử thách: nếu chàng cắm móc vào đúng cái ngấn đằng trước của một khoang thân, mở banh khoang đó ra, thì con sâu sẽ không lộn vòng xuống dưới và nghiến nát chàng.
Để một cây móc nguyên tại chỗ, Paul rút cây móc kia ra rồi cắm xuống thấp hơn nơi sườn con vật. Khi cây móc thứ hai đã cắm chắc và được kiểm tra kỹ lưỡng, chàng rút cây thứ nhất xuống, bằng cách đó chàng dời chỗ xuống bên sườn. Con vật quặn mình, và trong khi quặn mình, nó đổi hướng, tiến về phía dải cát mịn nơi những người khác đang đợi.
Paul thấy họ lại gần, thấy họ dùng móc trèo lên, nhưng tránh những đường ngấn tròn phân khúc nhạy cảm của con vật cho đến khi họ đã leo lên đỉnh. Cuối cùng họ xếp thành hàng ba sau lưng chàng mà cưỡi con vật, ai nấy tựa vào những
Paul liếc nhìn xuống bề mặt khoang thân có vảy nơi họ đang đứng, lưu ý đến tính chất và kích thước của các vảy, nhận thấy chúng to dần về bên phải và nhỏ dần về bên trái chàng. Chàng biết khi di chuyển mỗi con sâu đều có đặc tính nhấc một bên mình lên thường xuyên hơn. Sâu càng lớn thì việc nhấc một bên mình lên càng trở thành một đặc tính gần như không thay đổi.
Và tận phía cuối bề mặt thân sâu cát, Paul nghe tiếng những người thúc sâu đang lấy gậy nện xuống đốt đuôi con vật. Con sâu bắt đầu tăng tốc. Áo choàng của họ bay phần phật trong
Paul thấy cái nhìn bồn chồn trong mắt Chani, nhận thấy cách nàng nhìn từ Stilgar, vốn là chú ruột nàng, sang Paul, người phối ngẫu của nàng.
Nhưng chàng biết chàng không thể để bất cứ sự suy xét nào khiến chàng chệch hướng. Chàng phải luôn trụ lại ở tuyến trung tâm của cơn bão thời gian mà chàng có thể nhìn thấy ở tương lai. Sẽ đến cái khoảnh khắc chàng có thể tháo gỡ nó, nhưng chỉ khi nào chàng ở đúng nơi có thể cắt đứt nút thắt trung tâm của nó.
Phía bên kia vách đá là con đường trải dài dẫn tới sa mạc phía Nam-một con đường dài ít nhất mười ngày đêm, ấy là nếu họ có thể thúc sâu đi nhanh nhất.
“Quyết định của tôi có hợp ý Muad’Dib không?” Stilgar hỏi. Chỉ có một thoáng mỉa mai nhuốm trong giọng ông, song những đôi tai Fremen quanh ông, vốn đã quen nắm bắt từng thanh điệu trong tiếng chim hay tiếng kêu lanh lảnh truyền tin của con dơi cielago, đã nghe
Stilgar gật đầu, tì lên hai cây móc tụt xuống, nhảy lên mặt cát. Paul chờ đến khi con sâu đi xa khỏi khu vực ẩn nấp của những người Fremen, rồi mới rút hai cây móc của chàng ra. Đó là một khoảnh khắc khó khăn, nếu con sâu chưa hoàn toàn kiệt sức.
Khi tôn giáo hợp nhất luật pháp và nghĩa vụ, ngươi không bao giờ trở nên hoàn toàn có ý thức, không bao giờ nhận thức đầy đủ về chính mình. Ngươi luôn luôn kém hơn đôi chút so với một cá nhân.
Ở đây chính người Fremen mới làm ông lo lắng. Họ không nề hà gì việc buôn bán hương dược với ta, ta muốn mua bao nhiêu cũng có, nhưng họ sẽ là những con quỷ sẵn sàng giao chiến nếu ta đặt chân đến nơi họ cấm ta không được tới. Hơn nữa dạo gần đây họ trở nên láu cá cực kỳ.
gì. Chẳng có ánh lấp lánh nào của tấm chắn trên người bất cứ ai trong số họ. Chẳng có tên hèn nhát nào trong đám người này, những thằng hèn cứ phải tha tấm chắn vào sa mạc nơi sâu cát có thể cảm thấy được tấm chắn mà mò tới cướp không chỗ hương dược họ tìm ra.
thuận lợi phía trên sa mạc, Gurney chứng kiến cảnh tóm bắt con sâu-cú nhảy táo bạo của người cầm móc đầu tiên, cú vặn mình của con vật, rồi cả toán người trèo lên mạn sườn uốn cong loang loáng vảy của con sâu.
Thói quen cận chiến đó là dấu hiệu rành rành để phân biệt đội quân Sardaukar của hoàng gia.
“Lỗi do ta, Korba ạ,” Paul nói. “Lẽ ra ta nên cảnh báo anh phải tìm cái gì. Sau này, mỗi khi khám xét quân Sardaukar, hãy nhớ điều này. Cũng hãy nhớ rằng mỗi tên đều có một, hai cái móng chân giả có thể kết hợp với các thứ bí mật khác giấu trong người chúng để làm thành một máy phát tín hiệu hiệu quả. Chúng sẽ có nhiều cái răng giả chứ không chỉ một. Chúng mang những vòng shigaware trong tóc, mảnh đến độ anh khó mà phát hiện được, nhưng vẫn đủ chắc để thắt cổ một người cho đến khi cứa đứt đầu. Với bọn Sardaukar, anh phải rà soát từng li từng tí một-cả bằng tia phản xạ lẫn tia cường độ mạnh-phải chẻ từng mẩu lông mẩu tóc ra. Mà ngay cả khi đã khám xét tận chân lông kẽ tóc như vậy rồi, hãy tin chắc rằng anh vẫn chưa phát hiện được tất cả mọi thứ.”
Thường hay có chuyện cơn thịnh nộ của kẻ đang giận dữ phủ nhận những gì mà bản ngã nội tại của anh ta đang nói với anh ta.
“Tất cả những ai nằm dưới vị trí của mi đều thèm địa vị của mi,”
Fremen bởi nhờ đó sinh ra thứ chất liệu làm họ liên kết lại-Nước của Sự sống, thứ độc dược mà chỉ một Mẹ Chí tôn mới có thể làm biến đổi.
Thật là một người đàn bà gan góc, người đàn bà của Usul đây. Cô ta vẫn giữ vững sự tinh tế ngay cả khi nỗi sợ hầu như choán trọn tâm trí cô ta. Phải. Cô ta có thể là người chúng ta cần lúc này. Chỉ có một chút thanh điệu cam chịu nhuốm vào giọng Chani khi nàng nói: “Giờ mẹ có thể nói điều cần phải nói.” “Con cần có mặt ở đây để giúp mẹ hồi sinh Paul,” Jessica nói. Và bà nghĩ: Đấy! Ta đã nói điều đó bằng cách đúng nhất. Hồi sinh. Nói vậy thì con bé sẽ biết Paul vẫn sống và cũng biết rằng đang có một mối nguy, tất cả bao hàm trong chỉ một từ.
“Điều người khác có thể làm, anh ấy phải làm,” Chani nói.
Chàng túm lấy tay bà, đối diện bà với nụ cười toe toét như nụ cười của một cái đầu lâu, và chàng gửi ý thức của chàng cho nó tuôn trào sang bà.
Mối tương giao đó không êm dịu, không chia sẻ, không ôm chứa như mối tương giao trong hang giữa Jessica với Alia và với Mẹ Chí tôn già... nhưng nó vẫn là một sự tương giao: sự chia sẻ cảm thức giữa toàn bộ hai bản thể. Nó làm bà rúng động, khiến bà yếu hẳn đi, và bà co rúm lại trong tâm trí, khiếp sợ chàng.
Thông qua đó tất cả bọn họ xâu chuỗi được nhận thức rằng con trai bà là Kwisatz Haderach, người có thể ở nhiều nơi cùng một lúc. Chàng là thực tại thoát thai từ giấc mơ Bene Gesserit. Và thực tại đó khiến bà không thể an tâm.
“Không phải tương lai,” chàng nói. “Con đã thấy cái Bây giờ.”
“Nước của Cái chết,” chàng nói. “Nó sẽ là một phản ứng dây chuyền.” Chàng chỉ xuống sàn. “Rải cái chết ra giữa các Ngài tạo bé, giết chết một véc tơ chu kỳ sự sống bao gồm hương dược và các Ngài tạo. Arrakis sẽ chỉ còn là chốn hoang tàn-không hương dược, không Ngài tạo.”
Hãy để họ nhìn thật sát vật chủ mới của họ, Paul nghĩ.
“Đôi mắt chỉ chăm chăm tìm lối an toàn là đôi mắt bị khép kín mãi mãi,” Paul nói. “Hiệp hội bị què quặt rồi. Con người trở thành
“Làm đi!” Paul quát. “Khả năng phá hủy một thứ chính là sự làm chủ hoàn toàn thứ đó. Các ngươi vừa thừa nhận rằng ta có khả năng đó. Bọn ta không có mặt ở đây để tranh luận hay thương lượng hay thỏa hiệp. Các ngươi phải tuân theo lệnh ta không thì sẽ chịu hậu quả ngay tức khắc!”
“Khi người ta cho phép Người leo lên ngai vàng của phụ thân Người, ấy chỉ là dựa trên sự đảm bảo rằng Người sẽ giữ cho nguồn hương dược luôn tuôn chảy. Người đã làm họ thất vọng, thưa Bệ hạ. Người có biết những hậu quả không?”
ngay việc diễn trò hề đi,” Paul quát. “Hiệp hội giống như một thị trấn bên dòng sông. Họ cần nước, nhưng chỉ có thể múc lên cái họ cần. Họ không thể xây một con đập ngăn sông và làm chủ nó, bởi họ chỉ tập trung chú ý vào cái họ đang nắm giữ, cuối cùng thì điều đó mang lại sự tàn phá.
Hãy cố nhìn vào cái nơi mà ngươi không dám nhìn! Ngươi sẽ thấy ta ở đó chằm chằm nhìn ngươi!”
“Hãy nhìn bà ta xem, hỡi quý vị! Đây là Mẹ Chí tôn Bene Gesserit, kiên nhẫn vì một lý do bệnh hoạn. Bà ta có thể chờ đợi cùng các chị em mình-suốt chín mươi thế hệ dành cho việc kết hợp đúng cách các gen với môi trường nhằm sinh hạ một con người duy nhất cần thiết cho ý đồ của họ. Nhìn bà ta đi! Giờ thì bà ta biết chín mươi thế hệ đã sinh ra người đó. Ta đứng ở đây... nhưng... ta... sẽ... không... bao... giờ... làm... theo... lệnh... của... bà... ta!”
Hắn ta quá tự tin, Paul nghĩ. Đó là một thuận lợi tự nhiên mà ta có thể chấp nhận.
Và Paul nhận thấy mọi nỗ lực của chàng hòng thay đổi bất kỳ mắt xích nhỏ nào trong chuyện này đều thật vô ích. Chàng từng toan chống lại cuộc thánh chiến trong chính mình, nhưng cuộc thánh chiến vẫn sẽ xảy ra. Đạo quân của chàng sẽ từ Arrakis ồ ạt tràn ra mà thậm chí không cần có chàng. Họ chỉ cần truyền thuyết, mà chính chàng đã trở thành truyền thuyết đó.
Đây là đỉnh điểm, Paul nghĩ. Từ đây, tương lai sẽ mở ra, những đám mây rẽ ra dẫn tới một kiểu vinh quang. Và nếu ta chết ở đây, họ sẽ nói ta hy sinh thân mình để linh hồn ta có thể dẫn đường cho họ. Còn nếu ta sống, họ sẽ nói không ai có thể chống lại Muad’Dib.
Hắn là một kẻ ba hoa, Paul nghĩ. Lại thêm một nhược điểm. Hắn trở nên bứt rứt khi phải đối mặt với sự im lặng.
Chuyện này có thể là một thảm họa nghiêm trọng đối với kế hoạch gây giống của Bene Gesserit.
Hai sản phẩm cuối cùng của cái chương trình dài dằng dặc và vô cùng tốn kém này giờ đây đang đứng đối diện nhau trong một trận đấu dẫn tới cái chết, cái chết có thể dễ dàng xảy ra với cả hai người. Nếu
dao của Hoàng đế. Chàng sắp xếp lại quá trình trao đổi chất trong cơ thể mình để chống lại mối đe dọa này và thay đổi những phân tử của thuốc ngủ, nhưng chàng thấy rùng mình nghi hoặc. Bọn họ đã chuẩn bị sẵn con dao tẩm thuốc ngủ. Một chất gây ngủ. Máy dò chất độc chẳng phát hiện được, nhưng đủ mạnh để làm chậm các bắp thịt mà nó chạm vào.
Nhận biết chút gì đó về điều này xét theo cách sôi sục của điểm kết nối thời gian, Paul cuối cùng cũng hiểu tại sao chàng chưa bao giờ nhìn thấy Fenring trong mạng lưới các thị kiến tiên tri. Fenring là một trong những người-lẽ-ra-đã-là-Người-đó, gần như một Kwisatz Haderach, nhưng không hoàn toàn là Kwisatz Haderach, bị què quặt do một sai sót trong mẫu gen-một thái giám, tài năng của ông ta lặn cả vào bên trong. Một mối thương cảm sâu sắc dành cho vị Bá tước tràn ngập trong Paul, đó là cảm giác đầu tiên về tình anh em mà chàng từng nếm trải.
“Người Fremen có lời hứa của Muad’Dib,” Paul nói. “Nơi đây sẽ có dòng nước chảy lộ thiên dưới bầu trời và một ốc đảo xanh tươi với những thứ tuyệt vời. Nhưng chúng ta cũng cần nghĩ về hương dược nữa. Do đó, sẽ luôn có sa mạc trên Arrakis... và những cơn gió dữ dội, những thử thách làm con người trở nên dẻo dai. Người Fremen chúng thần có một châm ngôn: ‘Thượng đế tạo ra Arrakis để rèn giũa người trung tín.’ Người ta không thể làm trái lời Thượng đế.”
PHỤ LỤC I: HỆ SINH THÁI XỨ CÁT
Vượt quá điểm tới hạn bên trong một không gian hữu hạn, tự do giảm khi số lượng tăng. Điều này đúng với những con người trong không gian hữu hạn của một hệ sinh thái hành tinh cũng như đúng với các phân tử khí bên trong một chiếc bình kín. Đối với con người, vấn đề không phải là bao nhiêu người có thể sống sót bên trong hệ, mà là những ai sống sót thì có thể tồn tại theo kiểu nào.
“Có một vẻ đẹp được thừa nhận từ bên trong về sự vận động và tính cân bằng trên bất cứ hành tinh nào có ảnh hưởng tích cực tới con người,” Kynes nói. “Ta thấy trong cái đẹp này một hiệu ứng cân bằng động vốn dĩ thiết yếu đối với mọi sự sống. Mục đích của nó đơn giản thôi: duy trì và tạo ra những mẫu hình kết hợp ngày càng đa dạng hơn. Sự sống nâng cao khả năng duy trì sức sống của hệ khép kín. Sự sống-mọi sự sống-là nhằm phục vụ cho sức sống. Các dưỡng chất cần thiết được sự sống tạo ra cho sự sống và sự đa dạng của sự sống ngày càng tăng thì các dưỡng chất cũng ngày càng phong phú hơn. Toàn bộ cảnh quan trở nên sống động, tràn ngập những mối quan hệ và quan hệ bên trong quan hệ.”
Vẫn có sự gia tăng độ ẩm một cách nhất quán ở các độ cao trung bình, và trong một số ngọn gió nhất định. Lại còn cái manh mối căn bản nằm trong sự cân bằng không khí-23 phần trăm ô xy; 75,4 phần trăm ni tơ và 0,023 phần trăm đi ô xít các bon-còn lại là một chút khí ga.
Từng có nước trên Arrakis-một thời từng có. Ông bắt đầu xem xét lại bằng chứng về những cái giếng khô nơi có nước rỉ ra rồi biến mất, không bao giờ trở lại.
sống sót thì rơi vào một giấc ngủ dài trong bào xác mà kỳ thực là nửa thức nửa ngủ, để rồi sáu năm sau hóa thành những con sâu cát nhỏ (dài cỡ ba mét). Trong số sâu cát này, chỉ một vài con tránh được những người anh em to xác hơn và các túi chứa nước tiền hương dược để phát triển thành shai-hulud khổng lồ.
(Nước là chất độc đối với shai-hulud, theo như người Fremen đã biết từ lâu, sau khi dìm chết con “sâu còi” hiếm hoi của Erg Nhỏ để tạo ra chất gây mê quang phổ nhận thức mà họ gọi là Nước của Sự sống. “Sâu còi” là dạng sơ khai của shai-hulud, chỉ mới đạt độ dài chừng chín mét).
Khi các cồn cát làm rào chắn đã đạt đủ độ cao, người ta trồng loài cỏ kiếm rắn rỏi hơn lên mặt đón gió. Mỗi cấu trúc dựa trên một cái nền dày gấp sáu lần chiều cao của nó đều được neo lại-được “cố định” lại. Giờ thì họ bắt đầu gieo trồng đa dạng hơn-những loài cây có vòng đời ngắn (trước hết là rau muối, rau bina, rau dền), kế đó là đậu chổi, đậu lupin lùn, khuynh diệp (loại thích nghi với các vùng phía bắc Caladan), thánh liễu lùn, thông biển-rồi các loài cây sa mạc thứ thiệt: cây nến, xương rồng, và lưỡi quỷ, loài xương rồng dại. Ở đâu trồng được, họ trồng cả cây xô thơm lạc đà, yến mạch dại, cỏ vũ mao Gobi, cỏ linh lăng dại, cỏ roi ngựa sa mạc, anh thảo, bụi hương trầm, cây hoa khói, bụi creosote.
Kế đó họ chuyển sang đời sống động vật cần thiết-các sinh vật đào hang để mở đất và làm cho đất thông hơi: chồn, chuột căng gu ru, thỏ sa mạc, rùa cát... các loài ăn thịt để kiềm chế số lượng chúng: diều hâu sa mạc, cú lùn, đại bàng và cú sa mạc; các loài côn trùng để lấp đầy những hang hốc mà các loài trên không tới được: bò cạp, rết, nhện bẫy, ong bắp cày cái và sâu bay... cùng với dơi sa mạc để giám sát các loài này.
Giờ mới đến cuộc thử nghiệm quyết định: cây chà là, cây bông, dưa, cà phê, thảo dược-hơn 200 loài cây lương
Chính vì vậy chức năng cao nhất của sinh thái học là thấu hiểu các hệ quả.”
Nhưng cái “nhà máy” tiêu hóa bên trong của Ngài, với sự tập trung rất lớn các chất an đê hyt và a xít, là nguồn ô xy khổng lồ.
PHỤ LỤC II: TÔN GIÁO XỨ CÁT
Thế rồi đến thời Thánh chiến Butler-hai thế hệ hỗn loạn. Thượng đế của logic-máy móc bị quần chúng lật đổ và một ý niệm mới được nêu lên: “Con người không thể bị thay thế.”
Xét tình trạng bất an của thời kỳ này, đây có thể không phải là ước lượng quá đáng, tuy nhiên bất kỳ sự kỳ vọng nào đối với độ chính xác đích thực về con số rốt lại cũng chỉ đến thế mà thôi: kỳ vọng.
nghén Missionaria Protectiva, chi phái đen tối chuyên gieo rắc sự mê tín.
Thế rồi, trong hầu suốt bảy năm, U.D.Đ.T. làm việc cật lực. Và khi sắp đến dịp kỷ niệm bảy năm thành lập, họ chuẩn bị cho toàn vũ trụ loài người một tuyên bố vô cùng hệ trọng. Vào dịp kỷ niệm bảy năm đó, họ trình ra trước bàn dân thiên hạ cuốn Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam.
Con người ai cũng mong mỏi được khai minh. Tôn giáo chẳng qua là phương pháp cổ xưa nhất và chính trực nhất mà theo đó con người gắng gỏi tìm ra ý nghĩa nơi vũ trụ của Thượng đế. Các nhà khoa học thì tìm tính hợp quy luật của các sự kiện.
Nhiệm vụ của Tôn giáo chính là làm con người tương hợp với tính hợp quy luật đó.” Tuy
Mọi người phải thấy rằng, tôn giáo mà truyền giảng bằng luật lệ và học vẹt thì phần lớn là lừa bịp. Không khó để nhận ra thế nào là cách truyền giảng đúng đắn. Ta có thể nhận ra nó mà không hề nhầm lẫn bởi nó làm thức tỉnh trong ta cái cảm thức cho ta hiểu được đây là điều ta vốn vẫn luôn luôn biết.”
Nghe nói các trang sách tràn ngập mối quan tâm đầy cám dỗ đối với logic.
Haderach, người mà Nữ giáo đoàn tìm kiếm trong suốt chương trình nhân giống của họ, được hiểu là “Sự rút ngắn con đường” hay “Người có thể ở tại hai nơi cùng một lúc.”
“Tôn giáo thường dự phần vào huyền thoại về tiến bộ, cái huyền thoại che chở ta trước sự khủng khiếp của một tương lai bất định.”
Muad’Dib: “Nếu một đứa trẻ, một người chưa được huấn luyện, một người dốt nát hay một kẻ điên rồ gây nên chuyện phiền hà, thì giới cầm quyền mới là kẻ có lỗi vì đã không tiên liệu và ngăn chặn được chuyện phiền hà đó.”
Theo ngôn ngữ Fremen mồ hôi là bakka hay nước mắt và, theo một cách phát âm, được dịch thành: “Tinh chất của sự sống mà Shaitan vắt ra từ linh hồn mi.”)
Điều đó không nhất thiết bởi vì luật pháp và tôn giáo của họ giống hệt nhau, khiến cho sự bất tuân trở thành tội lỗi.
PHỤ LỤC III: TƯỜNG TRÌNH VỀ CÁC ĐỘNG CƠ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA BENE GESSERIT
Chương trình của Bene Gesserit nhằm mục đích tạo ra một người mà họ gọi là “Kwisatz Haderach”, một thuật ngữ có nghĩa là “người có thể ở nhiều nơi cùng một lúc”. Nói đơn giản hơn, cái mà họ tìm kiếm là một con người có những năng lực tâm linh cho phép anh ta thấu hiểu và sử dụng những chiều thứ tự cao hơn.
Họ đang gây giống nhằm tạo ra một siêu Mentat, một máy tính-con người mang một số khả năng
Thuật ngữ của Đế quốc
ARRAKIS: hành tinh được gọi là Dune (Xứ Cát); hành tinh thứ ba của hệ Canopus.
BẪY GIÓ: một thiết bị đặt trên đường di chuyển của một loại gió thường thổi trong khu vực, có khả năng làm ngưng tụ hơi ẩm từ không khí bên trong nó, thường bằng cách làm nhiệt độ bên trong bẫy giảm xuống đột ngột và đáng kể.
BINDU: liên quan đến hệ thống thần kinh của con người, đặc biệt là khi nói về sự rèn luyện hệ thần kinh. Thường được diễn đạt bằng cụm từ bindu-nervature, nghĩa là sự làm chủ hệ thần kinh.
CHOAM: tên viết tắt của Combine Honnette Ober Advancer Mercantiles-tập đoàn phát triển vũ trụ, do Hoàng đế và các Đại gia tộc cai quản, với các đối tác hùn
vốn là Hiệp hội và Bene Gesserit.
DAO PHA LÊ: con dao thiêng của người Fremen trên Arrakis. Nó được làm từ răng con sâu cát đã chết, chế tác thành hai dạng. Hai dạng đó là “cố định” và “bất định”. Con dao bất định phải luôn luôn đặt kề cận điện trường của cơ thể người nếu không sẽ bị phân rã. Dao cố định thì được xử lý để có thể giữ
GIỌNG NÓI: kỹ năng phối hợp đặc biệt do Bene Gesserit phát minh, cho phép người thành thạo kỹ năng này có thể sai khiến người khác chỉ bằng cách lựa chọn những âm sắc của giọng nói.